Xilanh khí nén là một thành phần quan trọng trong hệ thống khí nén, được sử dụng để chuyển động cơ cấu và thực hiện công việc cơ học bằng cách sử dụng áp suất của khí nén

Xilanh khí nén
* Giảm chấn.
Mỗi xilanh khí bao gồm một giảm chấn thay đổicó chứa khí nitơ ở áp suất thấp và dầu, một buồng khí chính và một buồng khí phụ có chứa khí nén.
Bộ chấp hành thay đổi lực giảm chấn bằng cách mở và đóng các lỗ tiết lưu trên van quay. Nó làm thay đổi lượng dầu đi qua các lỗ trên piston.
a, Cấu tạo:
Có hai cặp lỗ tiết lưu trong van quay, các van này gắn liền với cần điều khiển và nó được dẫn động bởi bộ chấp hành điều khiển hệ thống treo. Cần piston cũng có hai lỗ. Van quay, quay bên trong cần trong cần piston và đóng mở các lỗ, nó thay đổi lượng dầu đi qua các lỗ. Bằng cách điều khiển lưu lượng dầu đi qua các lỗ này, lực giảm chấn được đặt một trong ba chế độ này.

Các lỗ tiết lưu

Mặt cắt giảm chấn và đường đặc tính lực giảm chấn.
b, Hoạt động.
– Lực giảm chấn mềm: Tất cả các lỗ đều mở, đường dầu như hình 1-35

Lực giảm chấn mềm.
– Lực giảm chấn trung bình: Lỗ B mở và lỗ A đóng.

Lực giảm chấn trung bình
– Lực giảm chấn cứng: Tất cả các lỗ đều đóng

Lực giảm chấn cứng
* Các buồng khí và van khí
a, Cấu tạo

Buồng khí chính, buồng khí phụ
Buồng khí của xilanh khí được chia thành buồng khí chính và buồng khí phụ. Một van khí được gắn ở phần gối đỡ trên của xilanh khí. Van khí quay bởi bộ chấp hành điều khiển hệ thống treo qua cần điều khiển van khí để mở hay đóng đường khí thông giữa buồng khí chính và buồng khí phụ. Vì vậy độ cứng hệ thống treo được điều khiển theo hai chế độ.
b, Hoạt động.
Độ cứng hệ thống treo mềm: Khi van khí mở buồng khí chính và buồng khí phụ đóng vai trò như một lò xo, chúng được kết nối với nhau như hình 2-19.
Kết quả là thể tích tăng đặt độ cứng hệ thống treo ở chế độ mềm.

Độ cứng hệ thống treo mềm.
Độ cứng hệ thống treo cứng: Khi van khí đóng, đường khí thông giữa buông khí chính và buồng khí phụ bị bịt kín. Kết quả là chỉ buồng khí chính đóng vai trò như một lò xo (bởi vì thể tích buồng khí giảm), đặt độ cứng hệ thống treo ở chế độ cứng.

Độ cứng hệ thống treo cứng.
* Đèn báo LRC

Đèn báo và mạch đèn báo LRC
Đèn báo này được gắn ở bảng đồng hồ và chỉ thị các chế độ lực giảm chấn và độ cứng hệ thống treo ( NORMAL và SPORT ). Đèn này bật khi chọn chế độ SPORT và tắt khi chọn NORMAL.
* Điều khiển độ cao xe.
Độ cao xe được điều khiển bằng cách thay đổi thể tích khí nén trong các xilanh khí. Độ cao tăng hay giảm khi thể tích khí nén tăng hay giảm.

Sơ đồ điều khiển độ cao.
– Hệ thống sử dụng hai loại ống khí, ống thép và ống nilông mềm.
+ Ống thép được dùng để nối giữa van điều khiển độ cao số 1 và số 2và nó được gắn vào thân xe.
+ Ống nilông mềm được dùng để nối các chi tiết chuyển động, chẳng gạn như các van điều khiển độ cao và các xilanh khí.
– Các đầu nối nhanh được sử dụng cho ống nilông mềm nhằm mục đích dễ tháo lắp và bao kín.
* Công tắc điều khiển độ cao.
Công tắc điều khiển độ cao được lắp ở vỏ che dầm đỡ giữa và được điều khiển bởi người lái để lựa chọn độ cao gầm xe theo mong muốn( bình thường hay cao)
+ Ở vị trí NORM, điện áp 12V tác dụng lên cựu HSV của ECU hệ thống treo
+ Ở vị trí HIGH, cực HSW được nối đất và điện áp bằng 0V
ECU xác định độ cao gầm xe theo điện áp cực HSW.

Công tắc điều khiển độ cao và mạch công tắc điều khiển độ cao.
*Cảm biến điều khiển độ cao.
Cảm biến điều khiển độ cao trước được gắn vào than xe còn đầu thanh điều khiển được nối với giá đỡ giảm chấn dưới.
Với hệ thống treo sau, các cảm biến được gắn vào thân xe và đầu thanh điều khiển được nối với đòn treo dưới số 1.
Những cảm biến này liên tục theo dõi khoảng cách giữa thân xe và các đòn treo để phát hiện độ cao gầm xe do đó quyết định hướng định lượng khí trong mỗi xilanh.
* Cấu tạo
Mỗi cảm biến bao gồm một đĩa đục lỗ và 4 cặp công tắc quang học. Đĩa đục lỗ quay giữa đèn LED và transitor quang của mỗi công tắc quang học theo chuyển động của thanh điều khiển.

Hình 1.46: Cấu tạo cảm biến.
* Hoạt động
Các thay đổi về độ cao của xe làm cảm biến nâng hạ trong khoảng L. Nó làm đĩa đục lỗ (gắn vào một cần) quay, mở hay che ánh sáng giữa 4 cặp đèn LED và transitor quang.
Độ cao xe được phân biệt theo 16 bước nhờ vào sự kết hợp của các tín hiệu ON, OFF từ 4 transitor quang.
* Công tắc ON/OFF điều khiển độ cao.
Công tắc này được gắn trong khoang chứa hành lí. Nó ngăn không cho điều khiển độ cao trong khi đang nâng xe, khi đang kéo rơ-moóc hay đang đỗ trên đường gồ ghề. Việc này được thực hiện bằng cách ngăn không cho khí nén xả ra ngoài để không làm giảm độ cao xe.Khi công tắc bật đến vị trí OFF, cực NSW được nối mass, chấm dứt điều khiển độ cao gầm xe bằng ECU.
* Công tắc cửa.
Những công tắc này được lắp ở cạnh khung cửa sao cho nó tiếp xúc với khung cửa khi đóng lại. khi tất cả các cánh cửa đều đóng thifddieenj áp ắc quy tá dụng lên cực DOOR của ECU. Khi có bất kì cánh cửa nao mở, điện áp cực DOOR giảm xuống 0V, vì vậy ECU biết được cửa có mở hay không.
* Rơle điều khiển độ cao số 2
Rơle này được gắn gần ECU hệ thống treo trong khoang hành lí. Khi khóa điện bật ON, một tín hiệu từ cực MRLY của ECU làm một dòng điện chạy đến các cảm biến điều khiển độ cao và cực IGB của ECU động cơ.
* Rơle điều khiển độ cao số 1.
Rơle này được gắn ở hộp rơle số 6 dưới đèn pha trái. Khi nó hoạt động bởi tín hiệu từ cực RCMP của ECU, nó gửi dòng điện đến môtơ máy nénđiều khiển độ cao để cung cấp khí nén cho các xilanh khí.
* Máy nén điều khiển độ cao
Máy nén này cung cấp khí nén dể tăng độ cao xe. Máy nén dùng piston tịnh tiến và một thanh truyền để nén không khí.
Môtơ hoạt động nhờ dòng điện cấp qua rơle điều khiển độ cao số 1. ECU biết được tình trạng hoạt động của môtơ bằng cáh đo điện áp tại cực RM+ và RM- của ECU và dừng việc điều chỉnh độ cao khi phát hiện thấy sự bất thường.
* Van xả và bộ hút ẩm khí điều khiển độ cao.
Bộ hút ẩm hút hơi nước ra khỏi khí nén bởi máy nén. Hơi nước trong không khí được hút bởi một hóa chất hút ẩm (keo ôxit silic) được đổ trong bộ làm khô. Hơi ẩm bị giữ lại sẽ được xả vào trong khí quyển khi độ cao gầm xe giảm (tức là khi van xả mở). Van xả điều khiển độ cao được gắn ở đầu bộ hút ẩm. Khi nó nhận tín hiệu từ cực SLEX của ECU để giảm độ cao gầm xe nó xả khí nén từ xilanh vào khí quyển
* Van điều khiển độ cao số 1 và số 2
Van điều khiển độ cao điều khiển lưu lượng khí nén đến vào ra khỏi xilanh khí phụ thuộc vào tín hiệu từ ECU.
+ Van điều khiển độ cao số một được sử dụng cho hệ thống treo trước. Nó có hai van từ điều khiển hai xilanh khí bên trái và bên phải một cach riêng rẽ.
+ Van điều khiển độ cao số hai được sử dụng cho hệ thống treo sau và bao gồm hai van điện từ. Không giống như van số 1, chúng không hoạt động riêng rẽ. Trong van điều khiển độ cao số 2, có một van an toàn để tránh áp suất tăng quá cao bên trong ống khí(10kgf/cm hay lớn hơn).
Để nâng hay hạ thân xe phía sau dòng điện cực SLRL và cực SLRR của ECU điều khiển các van điện từ tương ứng.
* Xilanh khí.
Mỗi loại xilanh khi bao gồm một giảm chấn có lực giảm chấn thay đổi được, giảm chấn chứa khí nitơ ở áp suất thấp, và một buồng chứa khí nén.
Buồng khí chính là một buồng có thể tích thay đổi và có một màng ở đáy. Lượng khí nén trong buồng khí chính tăng hay giảm để điều chỉnh độ cao xe.
* Đèn báo điều khiển độ cao.
Những đèn nay được gắn trong bảng đồng hồ và chỉ thị độ cao xe.
Đèn báo thay đổi nhanh để chỉ thị rằng công tắc điều khiển độ cao xe đã thay đổi vị trí , nhưng thỉnh thoảng được yêu cầu báo trước khi xe đạt độ cao thực tế.

Đèn báo điều khiển độ cao
* Giắc điều khiển độ cao.
Giắc này được đặt gần ECU hệ thống treo bên trong khoang hành lí. Nó cho phép kiểm tra dễ dàng hệ thống điều khiển độ cao xe bằng cách nối các cực tương ứng, không cần đi qua ECU.
Đọc thêm: Nguyên lí hoạt động, điều khiển hệ thống treo khí nén






